26 thg 5, 2021

Cuộc đời vị cách cách cuối cùng của Trung Quốc

Cuộc đời vị cách cách cuối cùng của Trung Quốc

  •  


(Nhimblog) Bà là cháu gái của Hoàng đế cuối cùng Phổ Nghi.

Tuy đã gần 90 tuổi, nhưng bà Kim Mặc Ngọc vẫn giữ được thói quen sinh hoạt của thời thanh niên: 6 - 7 giờ sáng mới đi ngủ, 2 - 3 giờ chiều mới dậy. “Đánh tenis, đánh bóng chuyền, thi chơi golf đều vào buổi đêm” – bà cười nói vô tư như một đứa trẻ.

Cha của Kim Mặc Ngọc là Ái Tân Giác La Thiện Kỳ – Túc thân vương đời thứ 10, một trong Bát đại thân vương truyền đời của triều Thanh. Túc thân vương có một chính phi, 4 thứ phi, ông có 38 người con, 21 trai và 17 gái. Thứ phi thứ 4 nhỏ tuổi nhất sinh được 3 cô con gái, Kim Mặc Ngọc là con gái út, có tên Mãn Thanh là Ái Tân Giác La Hiển Kỳ.

Kim Mặc Ngọc không kịp được hưởng thời kỳ thịnh vượng của Túc vương phủ. Thời đó ở Bắc Kinh có lưu truyền câu ca rằng: “Nhà của Cung vương phủ, tường của Dự vương phủ, bạc của Túc vương phủ phải đong bằng đấu”. Năm 1918 khi Kim Mặc Ngọc ra đời, cha bà đã bị đi lưu vong ở vùng Đông Bắc 6 năm. Tuy là lưu vong, nhưng cuộc sống của vương thất vẫn rất quy củ trong suốt một thời gian dài, nhất là đối với các cô con gái. Trong các bữa tiệc, Kim Mặc Ngọc và các cô chị thậm chí còn không được gắp các món ăn bày ở xa, hành động được cho là thiếu mỹ quan đó thường giao cho các bà vú, các bà vú gắp chút thức ăn vào một chiếc đĩa nhỏ và đưa cho họ. Trong các bữa tiệc ấy, các vị cách cách luôn ăn không được no, nhưng cũng không dám để lộ ra, mà phải chịu đựng cho đến khi về nhà, các bà vú lại phải làm cho các món ăn khác.

Đối với các loại quy định trong vương phủ, các anh chị em của Kim Mặc Ngọc đều phải chấp hành vô điều kiện, nhưng cô bé được các anh chị đặt cho biệt danh là “ngang bướng” Kim Mặc Ngọc lại muốn có nhiều đặc quyền hơn, ví như dứt khoát không chịu để bà vú đi theo “quản lý” mỗi khi ra ngoài như các chị.

Năm 19 tuổi, Kim Mặc Ngọc đã từng có một kế hoạch cho tương lai của riêng mình, là mơ ước được trở thành một nữ ký giả hoặc một ca sĩ, mơ ước này đã một phen làm cho các bậc trưởng lão trong vương phủ phát hoảng. Nhưng vị cách cách thứ 17 này cũng cố chấp giống hệt cha. Năm 1937, khi xảy ra Đại chiến thế giới lần thứ hai, Kim Mặc Ngọc phải bỏ học ở Nhật Bản để quay về Bắc Kinh. Bà đã giấu gia đình đi xin việc làm cố vấn cho một công ty Nhật Bản, lương cao và…không cần thường xuyên có mặt ở công ty. Cô gái Kim Mặc Ngọc vốn được chiều chuộng từ nhỏ nên rất hào phóng trong việc chi tiêu. Tháng nào cô cũng lĩnh lương trước để mua đồ mời các đồng nghiệp nên cuối tháng toàn phải bù tiền trả công ty. Lúc đó, Kim Mặc Ngọc không thể hình dung ra được sẽ có ngày cô phải đan áo len để nuôi cả gia đình 9 người; sẽ có ngày cô chỉ nhận được 19 đồng 5 hào mỗi tháng, đến nỗi ăn một bát mỳ cũng phải đắn đo.

Năm 1949, quân giải phóng tiến vào thành phố, thập thò sau bức tường Tứ hợp viện ngắm nhìn các chiến sĩ quân giải phóng oai vệ trong bộ quân phục, Kim Mặc Ngọc ao ước mình được trở thành phần tử trí thức của đường phố, cầm trên tay chiếc bình thuỷ tinh và đôi đũa, đi đến từng nhà, lật từng viên  ngói để bắt từng con côn trùng.

Các anh của cô đã rời khỏi Bắc Kinh từ lâu, cha cô gửi các anh đi học các trường quân sự tốt nhất ở nước ngoài. Trong mắt cô, phần lớn các anh chỉ học được những điều tồi tệ ở trường quân sự, có vài ông anh lại còn hút cả thuốc phiện. Sản nghiệp của Túc thân vương mất trắng trong tay mấy ông anh này. Nhà cửa dần dần bị bán hết, mấy ông anh giao việc bán nhà cho ông bố nuôi Kawasima Rousoku người Nhật và một nửa gia sản của Túc thân vương rơi vào túi ông bố nuôi này. Năm 1949, các anh cô đi HongKong, gia tài để lại cho Kim Mặc Ngọc là 100 tệ. 100 tệ này phải nuôi chín miệng ăn: bốn đứa con của anh cả, hai đứa con của anh hai, hai mẹ con bà vú nuôi của anh cả, còn cô thì chưa lập gia đình và chưa hề có chút kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm sống nào.

Kim Mặc Ngọc bắt đầu bán dần đồ đạc trong nhà: dương cầm, thảm, sofa, áo da, do không biết giá thị trường, nên cả đống áo da đắt tiền cô chưa từng động tay đến được bán đi cả mớ với giá rẻ mạt. Kim Mặc Ngọc đan áo len để bán. Ba ngày đan xong một chiếc áo cũng vẫn không đủ tiền rau cho cả nhà. Cô lại mở cửa hàng giặt đồ, mua hẳn loại xà-phòng tốt, cuối tháng cộng sổ, tiền xà-phòng còn nhiều hơn cả tiền công giặt. Ngày nào ra ngõ cô cũng bị các bà bán hàng tạp hoá với theo đòi tiền.

Cuộc sống đó kéo dài đến tận năm 1952, các anh cô ở Nhật gửi về cho bảy cô cháu một khoản tiền. Cô mở một cửa hàng ăn Âu ngay tại sân nhà, nhưng kết quả là chả có ai bước chân vào. Cô không nản chí mà quay ra mở quán ăn Tứ Xuyên. Lúc đó ở Bắc Kinh có 400 nghìn người Tứ Xuyên, nên quán ăn này đã nhanh chóng phất lên. Tuy chưa kiếm được nhiều tiền nhưng cũng không còn phải lo đến cái ăn cái mặc nữa. Hai năm sau, nhà hàng bị công tư hợp doanh, cô trở thành một viên chức của Cục biên dịch trung ương, lương mỗi tháng 60 tệ, Kim Mặc Ngọc trở về nhà lòng vui như mở cờ.

Năm 1954, Kim Mặc Ngọc 36 tuổi mới kết hôn. Mượn được chiếc xường sám, cầm trên tay tấm thiếp mời do chính phu quân Mã Vạn Lý viết bằng bút lông, cô thầm nghĩ giá như ngày trước, chắc cô cũng sẽ giống như các bà chị được gả cho vị vương gia Mông Cổ nào đó rồi. Các cô cách cách là những công cụ quan trọng của mối liên kết Mãn-Mông. Nhưng cô từ nhỏ đã khác các chị, khi ở Bắc Kinh, cô cũng đã từ chối không ít lời cầu thân để tự do đi theo con đường mình đã chọn.

Chồng cô - Mã Vạn Lý là một hoạ sĩ hoa điểu nổi tiếng, ông đã từng có hai đời vợ. Người vợ đầu đã mất do khó sinh, người vợ thứ hai cũng đã ly hôn do không hợp. Khi gặp Kim Mặc Ngọc, Mã Vạn Lý vẫn đang ở nhà con gái. Nhà con gái ông rất chật, đến chỗ ngủ cũng không có chứ chưa nói đến chỗ để vẽ nên ông đã từng có ý định tự tử. Kim Mặc Ngọc xuất hiện đã giúp ông có được một nơi để vẽ tranh và có một gia đình. Niềm hạnh phúc chưa được bao lâu thì bão táp đã ập đến.

Tháng 2 năm 1958, còn 5 ngày nữa thì đến Tết, Kim Mặc Ngọc đột nhiên bị bắt đi, bắt đầu cuộc sống tù ngục 15 năm. Tội danh duy nhất với cô là: con gái của Túc thân vương và em gái của đặc vụ Yoshiko Kawashima. Ở thời đại đó, chỉ cần thế cũng đã đủ làm cô mất mạng. Để không phiền hà đến chồng, Kim Mặc Ngọc đã viết đơn xin ly hôn từ trong tù, cô quyết định tự mình chịu đựng thời gian ngục tù. Năm 1973, hết hạn tù, Kim Mặc Ngọc được đưa đến làm công nhân của một nông trường chè ở Thiên Tân.   

Ở nông trường chè, đôi tay Kim Mặc Ngọc luôn chảy máu vì phải cuốc những lớp đất đông cứng để trồng táo bằng chiếc cuốc sắt cao hơn thân mình, nhưng bà không hề kêu ca một tiếng nào: “Tôi biết mình không như những người khác, người khác chỉ là mâu thuẫn nội bộ dân tộc, còn tôi lại là một tiểu thư của giai cấp quý tộc phong kiến, là em của một Hán gian”. Trong thời gian đó, một người Thượng Hải nói tiếng phương Bắc bước vào cuộc đời bà. Ông đặt vào đôi tay đẫm máu của bà một chiếc cuốc sắt nhỏ do ông tự làm và cuốn “Nhân dân Trung Quốc” bằng tiếng Nhật. Bà đã nhanh chóng nhận lời cầu hôn của ông, vì bà mong được nông trường phân cho một căn buồng của riêng mình. Khi được phóng viên hỏi rằng: “Bà có hối hận khi trước đây không ra đi cùng các anh hay không? Bà đã trả lời rằng cuộc đời bà có hai việc làm đúng đắn nhất: thứ nhất là không đi HongKong, thứ hai là trong thời gian ở tù đã không làm hại đến một người tốt nào. “Khi còn học ở Nhật, vị gia sư đã dạy tôi rằng cao thượng không phải là mình không cười khi người khác cười, đó là một thứ phẩm đức. Người cao thượng mỗi năm phải dành ra một ngày đóng cửa lại để suy nghĩ, suy nghĩ xem mình có làm điều gì có lỗi với người khác hay không. Nếu thấy đúng thì hãy kiên trì thực hiện, không cần biết người khác nghĩ như thế nào”.

Năm 1976, khi cùng chồng về Thượng Hải thăm gia đình, bà bị ốm, chụp X quang cho thấy cả chín đốt sống của bà đều bị hỏng, trong bệnh án ghi là “gai cột sống, viêm tuỷ sống, tổn thương cơ”. Nông trường cho bà nghỉ bệnh, lương mỗi tháng chỉ còn 19 tệ 2 hào. Số tiền này không đủ để hút thuốc, chưa nói đến tiền gửi biếu mẹ chồng. Hút thuốc là thói quen của bà từ khi bị ở tù.

Theo tính cách của bà thì có chết cũng không cầu xin ai, không muốn làm phiền đến ai. Trong tù, lưng đau đến mức không kéo nổi chăn, mà phải kéo bằng chân; không có lược chải đầu mà phải chải tóc từng ít một bằng chiếc bàn chải đánh răng; quần áo rách rưới không có đồ thay, mà phải vá lên đó những bông hoa nhỏ bằng vải vụn;  bà vẫn cắn răng chịu đựng vì theo bà cho dù thế nào, bề ngoài cũng phải luôn gọn gàng.

Cuộc sống gặp muôn vàn khó khăn, đã từng có một người cháu ở Mỹ mời bà sang đó sinh sống, nhưng bà đã từ chối vì không muốn làm phiền các cháu.

Năm 1979, lần đầu tiên trong đời Kim Mặc Ngọc nghĩ tới việc cầu cứu người khác, lần đầu tiên trong đời và viết thư cầu cứu tới một người, người đó chính là Đặng Tiểu Bình. Trong thư bà không hề xin được trả lại thân phận, mà chỉ xin một công việc. Bà còn nhớ trong thư có đoạn: “Tôi hiện nay đã mất sức lao động, nhưng vẫn còn có thể lao động trí óc, xin hãy cho tôi một công việc”. Thư được trả lời rất nhanh. Sau 40 năm rời xa Bắc Kinh, Kim Mặc Ngọc cuối cùng cũng đã được trở thành một phần tử phổ thông nhất trong những người dân sống ở Bắc Kinh.

Bà Kim Mặc Ngọc từ lâu vẫn muốn mở một trường học. Đầu năm 1992, bà cùng chồng đem toàn bộ số tiền gom góp của mình để mua bàn ghế, sách vở để mở “Lớp học tiếng Nhật nhi đồng Ái tâm”. Từ “Ái tâm” là từ có âm đọc gần giống như từ “Ái Tân”, việc này vừa thể hiện rằng bà vẫn là một thành viên của dòng họ Ái Tân Giác La, vừa biểu hiện tấm lòng dành cho việc đào tạo tiếng Nhật cho trẻ em của bà những năm cuối đời. Để từ “Lớp” có thể chuyển thành “Trường”, từ năm 1993, bà Kim Mặc Ngọc đã đi lại liên tục giữa Nhật Bản và Bắc Kinh, kêu gọi các đồng nghiệp, bạn bè, người thân ủng hộ và giúp đỡ để có kinh phí thành lập trường.

Tháng 5 năm 1996, Trường đào tạo tiếng Nhật Ái Tâm đã chính thức được treo biển ở khu phát triển thành phố Lang Phường tỉnh Hà Bắc. Theo nhận xét của các cơ quan hữu quan, ngôi trường này lúc đó là trường chuyên tiếng Nhật dân lập có đầy đủ điều kiện hệ thống và thiết bị nhất trong nước.

Những năm cuối thập kỷ 90, trên cơ sở của ngôi trường này, khu Đại học phương Đông Lang Phường đã được xây dựng. Và bà cũng đã mua được một căn hộ ở đó bằng chính những đồng tiền tự mình kiếm được. Người dân ở đó ai cũng biết đến bà lão đầy bản lĩnh này. Nhưng với bà, bà lại cho rằng mình cũng giống như những người bình thường khác mà thôi: “ Có lúc nghĩ, cuộc đời của tôi cũng có làm được việc gì đâu?. Bà thở dài và lại ngắm bức ảnh trên tay. Trong ảnh là cô gái 14 tuổi mặc chiếc váy trắng, mỉm cười nghịch ngợm như một cậu con trai. “Lúc đó, tôi nghịch lắm” – Bà nói và mỉm cười, nụ cười giống hệt như bức ảnh năm nào.

Tạp chí Truyền hình số 23/572 (2008)


15 thg 4, 2021

Mùa hè Montreal

Mùa hè Montreal


Ở Montreal, trải qua 5 tháng thu đông lạnh lẽo, cây cối rụng sạch trụi trơ cành, đến mùa xuân là mọi loài cây sinh sôi nảy nở với sức mạnh thực sự kinh ngạc. 

Cả thành phố như bỗng cựa mình trở nên sinh động như chưa từng ngủ yên, với đủ sắc màu của hoa lá cây cối, cùng đủ mùi hương. 


Chỉ là lá của cây phong thôi, mà cả con đường thơm ngát một mùi dịu nhẹ, cả bầu trời được tô điểm bằng búp non xanh biếc. Khi mình sung sướng hít thật sâu cái mùi hương thanh thoát nhẹ nhàng tự nhiên đó, thì người bạn đi bên cạnh dặn hít vừa thôi, kẻo sau này bị dị ứng phấn hoa. Ừ, cái này lạ ghê, ai ở càng lâu thì bị dị ứng phấn hoa càng nặng.


Từ xuân sang hè, mọi người đua nhau trồng cây trồng hoa, treo hoa trước nhà. Thời đó, mình cũng bỏ tiền ra mua Fuschia, thủy tiên về trồng. Rồi còn trồng hoa mười giờ, cà chua và gieo cả một cây chanh. 

Fuschia của Nhím
Thủy tiên của Nhím

Cây chanh lên hơn một chục cái lá, mỗi lần ăn thịt gà là mình lại lấy một cái, vừa tươi, vừa thơm, lại đỡ tốn tiền mua lá chanh nữa chứ. Lá chanh ngoài chợ bán một hộp cũng chỉ 1 đồng thôi, nhưng ăn không cách gì hết, bỏ ngăn đá thì cũng không còn thơm như tươi nữa. 

Hết hè, phải mang cây vào nhà chăm sóc cẩn thận, mà chúng nó vẫn cứ còi đi.



Cây hoa cứ còi đi khi vào thu, dù được chăm bẵm

Trồng cây nó có cái thú vui chờ đơm hoa kết trái. Mình còn nhớ cây cà chua của mình, hạt giống là được Maili cho. Mình gieo xuống, chờ nó nảy thành cây con. Cái này thì rất dễ, xứ này đất tốt, sức sống bị giam hãm cả 5 tháng thu đông, nên mọi thứ gieo xuống đều lên rất tốt. Phải cái, chỗ vườn nhà mình bị cây lá phong cao to che hết cả, nên cây cà chua của mình èo uột, tưởng không đậu trái được. 

Cây cà chua èo uột đậu được một quả của mình

Mãi cũng có được một quả, mình mừng hết lớn, chăm bẵm em nó kỹ lắm, chụp cả hình ẻo lả phải dựa hàng rào của nó nữa (chụp hẳn bàng máy phim nhé, quý lắm đó!). 

Chả bù cho cây của Maili, nó ra trĩu trịt quả, quả nào quả nấy to bằng cái bát, đứng không vững, phải chống đỡ cho nó chứ. Ah, mà rõ là trong cả hai thái cực thì đều không tự đứng được nhỉ, hihi…

Nói về vườn cây của Maili thì mình cũng tham gia trồng những cây tùng. Năm đó, họ mua cây con cao khoảng 2 tấc về, nói với mình là trồng bây giờ, chờ vài năm là nó cao to hơn đầu người. Mình cũng hứng thú lắm và tham gia đào xới trồng xuống cùng họ. 

Sát hàng rào là hàng tùng nhà Maili mình tham gia trồng

Nhưng mà, khi cây mới cao chừng một mét là họ đã chia tay. Cái nhà đó mình vẫn còn chìa khóa, nhưng chắc không còn vào được nữa. Chủ nhà mới không biết có thay hàng tùng bằng cây khác không nữa chứ.

Từ ga xe điện ngầm, đi bộ về nhà Maili mất khoảng 15 phút. Mình thường thơ thẩn ngắm các loại hoa ở các nhà. Thời đó vẫn còn chụp hình bằng máy phim, nếu không, hẳn là nhiều hình lắm. Khi chuyển sang máy ảnh số, thì cái gì cũng quen thuộc, chẳng buồn giơ máy lên chụp. Nhưng giờ nghĩ lại, đều thấy nhớ.

Tulip thì mùa đông tàn lụi, hè trồi lên nhìn thật hay. Dàn hoa tulip nhà Maili màu tím lịm, mãi lên cao nở hoa thì mình mới thấy. Tulip ở Montreal cũng nhiều lắm. Cả hoa anh đào nữa, bung nở rực rỡ cả một con phố.

Mùa hè ở Montreal nắng nóng cũng không thua gì Sài Gòn. Ở khu nhà Maili, các gia đình phơi quần áo ở sân nhà sau, chẳng khác gì ở Việt Nam. Mùa hè cũng hay có những cơn mưa rào bất chợt, làm quần áo ướt hết, nhưng rồi cũng khô nhanh chóng, vì độ ẩm ở đây rất thấp. 

Thời tiết ấm áp nên các chị thoải mái mặc áo hai dây. Sinh viên mặc cả quần short vào lớp, và thầy giáo cũng vậy. Các thảm cỏ ở UdM thì xanh non mơn mởn. Buổi trưa các bạn tây hay mang cơm ra đây ngồi ăn và phơi nắng luôn thể. Thời đó mình không sợ nắng nhưng vụ phơi nắng vẫn thấy khá kỳ lạ. Mãi sau, khi ở lâu hơn thì mình cũng tranh thủ có nắng là ra phơi.

Sau này qua học ở ETS thì chẳng có gì đẹp. Và mình cũng chẳng có tâm trạng nào với quang cảnh. Mùa hè năm đó mình đăng ký học 4 môn, mọi người bảo mình bị hâm, giờ mình cũng thấy vậy! Không chỉ hâm mà còn dại nữa. Mùa hè chỉ đăng ký học một môn là được, hai môn là nhiều, bốn môn thì…chỉ có đứa thất tình thôi.

Nói vậy để thấy rằng, mùa hè ở Montreal ngắn lắm, đẹp lắm, nhiều hoạt động lắm, phải tranh thủ tối đa. Nào là liên hoan phim, bắn pháo hoa mỗi tối thứ 7, đạp xe đạp vòng quanh hồ, etc. 

Liên hoa phim quốc tế

Nghĩ lại vụ đạp xe này vẫn thấy tiếc. Hồi đó chưa thích đạp xe đạp như bây giờ. Và vì mình nghĩ mình còn ở đây nhiều năm, năm nay không đạp xe thì năm sau tham gia. Cơ mà khi năm sau đến mình lại quyết định bỏ học và về nhà luôn! Cả mình cũng không ngờ mình sẽ có thể có một quyết định như thế.

Hồi 2013, có một dự án tuyển mình làm 2 năm bên Montreal. Mình suy nghĩ, thấy vẫn muốn trải qua 6 tháng ở Montreal, để trải nghiệm lại 4 mùa và tận hưởng một lần nữa những gì đã bỏ qua (dù mọi thứ không còn như trước nữa thì mình vẫn muốn thử). Nhưng 2 năm thì không muốn đi. 

Sau này các sếp cũng bất đồng về dự án, và sếp Ấn thấy mình cũng không tha thiết gì việc qua đó, nên đá mình ra khỏi dự án luôn. Cậu bạn Olivier trong dự án đó phê bình mình quá xá. Bảo rằng mình muốn đi 6 tháng thì cứ im đi, cứ vào dự án đi, vào xong gần 6 tháng xin ra thì ai làm gì được…Ờ, cơ mà mình không muốn thế.

Mình quyết định bỏ học, đi về, khi đang cuối tháng 5, bắt đầu hè. Ngày đó, mình giao lại đồ đạc và cây cối cho người bạn. Mình cứ nghĩ là mình nhớ cây chanh nhiều nhất. Bởi đó là thứ mình gieo từ hạt, ươm cho nảy mầm, chờ đợi từng cái lá.

Nhưng không phải vậy. Từng thứ từng thứ, bốn mùa đều có những nét rất riêng biệt, đều làm mình nhớ. Là nhớ thôi, trí nhớ thì rất đẹp và lung linh. Chứ mà trải qua đời sống thì nó lại nhạt toẹt đi ngay với những lo toan.

Lúc nào có dịp, hẳn là mình muốn sống lại ít nhất 6 tháng ở Montreal đó.

Nhím tiểu thư.

 

 









25 thg 3, 2021

Một chuyến đến giáo xứ Tịnh Sơn, Phú Yên.

Một chuyến đến giáo xứ Tịnh Sơn, Phú Yên.


Đợt này đang nhiều việc, nên khi được rủ đi làm từ thiện ở Phú Yên, mình rất ngần ngừ. Nhưng rồi được nài nỉ đi theo để có gì lái xe ô tô thì mình cảm thấy mình thật quan trọng, nên nhận lời đi.

Kế hoạch thay đổi từ thuê một tài xế thành mình lái xe từ Sài Gòn ra Phú Yên. Em họ mình nghe mình lái đường dài như vậy thì hết hồn. May quá là kế hoạch lại đổi lại là mua vé máy bay từ Sài gòn ra Tuy Hòa, rồi từ đó đi tiếp khoảng hơn 50km ra Tịnh Sơn. Gì chứ, mình cũng thở phào nhẹ nhõm. Mình không sợ lái xe, mà chỉ sợ công an!

Mọi thứ sắm sửa cho việc làm từ thiện đã giải quyết xong qua điện thoại. Ở Tịnh Sơn cũng đã thuê được xe. Giờ chót thì chỉ còn ba người lên đường, cũng không sao. Tại sân bay, có hơi vật vã điền hồ sơ khai báo y tế nhưng rồi cũng qua trót lọt, vừa vặn vào đến phòng chờ 5 phút, mình vừa kịp lấy nước uống xong thì xếp hàng vào máy bay luôn.

3h chiều đến sân bay Tuy Hòa, em Thái tài xế đã đến đón, chở 3 người mình đi vòng vòng tham quan thành phố rồi ghé vào một tiệm chay, để sư cô và chị bạn ăn trưa. Đây là tiệm chay do một sư thầy mở ra, không thu tiền người đi tu đến ăn. Tiền lời thu được, lại dùng để chia sẻ đến người nghèo. Tiệm bán đồ ăn ngon. Mình không ăn gì vì đã ăn bánh mỳ lúc trưa, nhưng mua một hộp bột gạo lức và mè đen, về ăn cũng ngon lắm (1).

Ăn xong thì chạy về Tịnh Sơn (2). Trên đường đi nói chuyện nhiều hơn mới biết, em Thái cũng là dân công nghệ thông tin, từng mở công ty làm web trong Sài Gòn, rồi giờ thì về quê, kiểu như anh Hải, chạy xe rong ruổi giúp mọi người và giúp sư thầy ở tiệm chạy. Mình ngồi im cảm khái…Không khai ra mình cùng nghề. Biết nói sao nhỉ, chỉ cần sống có ích và cảm thấy hạnh phúc là được.


Con đường từ Tuy Hòa về Tịnh Sơn, chạy dọc con Kênh Bắc đẹp lắm. Hẳn là mình đã nghe về con kênh này, nhưng giờ mới được nhìn thấy. Con kênh này được xây dựng từ thời Pháp, tưới tiêu cho nguyên một vùng. Kênh rộng chừng 6m, nước trong, một bên đường nhựa, một bên là các ngôi nhà nhỏ xinh xinh và cây cối, thỉnh thoảng có một cây cầu nhỏ nối từ đường nhựa vào phía nhà cửa. Đang là lúc chiều tà, có thể thấy nhiều trẻ con nô đùa trên dòng kênh. Mình thấy con kênh này xinh xắn không thua gì các con kênh ở Hàng Châu. Nếu thiết kế được một tour du lịch hằng thuyền dọc kênh thì hay biết mấy.

Phải 6h chiều mới đến nơi. Sơ Sang đón vào rồi mọi người tranh thủ đi thăm và tặng quà ba gia đình gần tu viện. Toàn là các hoàn cảnh già cả, neo đơn, bệnh tật. Thế mới thấy, sống thọ mà sống không khỏe thì…rất khổ. Đi xong 3 nhà thì chúng tôi về ăn tối. Có khách từ xa nên các sơ chuẩn bị các món ăn nhiều và trang trí cũng đẹp.



Kế hoạch ngày mai có vẻ phải dậy sớm vì các sơ thức sớm lắm, 5h các sơ đã hát Thánh lễ buổi sáng rồi. Mọi người bàn kỹ hơn kế hoạch ngày mai, lúc này mới hỏi là xe thuê là xe số hay xe tự động. Nếu xe số thì làm sao mình tự tin mà lái, hừ hừ…Nếu xe số mà mình không lái thì cuối cùng vai trò trong chuyến đi của mình là gì, hừ hừ…

Buổi tối, chúng tôi được bố trí ngủ ở gian phòng khách. Chỗ ở này của tu viện bên cạnh nhà thờ Tịnh Sơn. Các gian nhà lợp mái tôn, phòng tắm không có nước nóng. Cũng may trời không lạnh quá. Vậy khi trời lạnh các sơ phải làm sao (đã quên không hỏi). Dù đã đóng kín các cửa đề phòng gió buổi tối, tôi vẫn rất khó ngủ ban đêm vì lạnh đầu. Mãi sau trùm chăn kín cả đầu thì chắc cũng ngủ được một chút.

Buổi sáng, tôi đã tỉnh dậy từ trước khi tiếng ca trong Thánh lễ vang lên. Giọng các sơ thánh thót nghe hay lắm, êm đềm lắm. Dù bị đánh thức bởi âm thanh này, cũng không lấy gì làm khó chịu, lại vẫn có thể nướng tiếp một chút. Xa khỏi Sài Gòn, mọi sinh hoạt đảo lộn và có vẻ khác thường cũng tốt.

6h thì xe đến chờ hàng đến điểm phát quà trước. Các sơ chuẩn bị bắp và khoai luộc cùng bánh bột lọc ăn sáng. Khoảng 7h là lên đường. Cái xe thuê được là xe số, hừ hừ…Có cô sư cô lái nên mình khỏi lái. Thật vẫn chưa được ích lợi gì trong chuyến đi cả!

Nơi phát quà là xã Krong Pa, dân tộc Ba Na và xã Tân Bình dân tộc Gia Rai. Từ Tịnh Sơn qua Krong Pa khoảng 25km. Hai bên đường hoang sơ, vào mùa trồng mía nên chỉ thấy mía mà thôi. Thỉnh thoảng có chỗ trồng bắp, trồng mì. Ở đây không có sinh kế gì khác ngoài nông lâm nghiệp. Hết trồng mía, ngô, khoai sắn, tới tháng 3 thì vào rừng kiếm tổ ong. Tới tháng 8 mùa mưa thì vào rừng tìm nấm mối.

Nghe kể nấm mối ăn ngọt lắm, hái thích lắm, mình cũng muốn có được trải nghiệm vào rừng hái nấm ghê. Nhưng mọi người nhìn mình bảo không theo kịp người ta đâu. Người ta mà thấy nấm là sấn tới bất kể gai góc, nhiều khi hái xong nhìn lại chung quanh toàn gai, không rõ vì sao đã chui vào được.

Hồi xưa thì nấm mối không mắc, nhưng từ khi người Sài Gòn ăn nấm mối, nấm chuyển về Sài Gòn là chính nên giá cứ tăng dần. Năm ngoài khoảng 250 ngàn một kg ngay tại đây. Dù sao thì mình cũng muốn dịp đó sẽ quay lại nơi này, ai biết, trúng được ổ nấm mối thì sao.

Đợt này, sẵn mang cái chân máy theo nên mình dựng lên quay phim phát quà cho bà con dân tộc. Thế là từ đó về sau, đến nhà nào sơ Sang cũng kêu mình vào chụp, như thể mình lên đây để chụp hình vậy đó. Cuối cùng, cũng cảm thấy có chút vai trò “quan trọng” trong chuyến đi, hihi.

Trong các nhà ghé vào dọc đường từ Krong Pa trờ về xã Tân Bình, mình ấn tượng ba nhà.

Một là nhà của một “bà điên”. Nhưng khi tìm vào thì bà đã bỏ đi đâu mất. Nhà trống hua trống hoắc, quần áo hay giẻ cũng không phân biệt được. Đồ đạc mục nát. Ấy vậy mà nghe sơ kể là khi cho bả đồ, bả cũng biết giấu xuống dưới chiếu nghen.

Em bé ngồi giữa là em không đi lại được bình thường.

Một nhà khác là nhà một em bé, thấy mặt mũi sáng sủa binh thường, tay chân lành lặn. Nhưng không rõ vì sao mà không đi được. Có vẻ như hai cái đầu gối không duỗi gập được, nên em nó đi như lật đật. Phải mà ở thành phố lớn thì sẽ khác. Ở đây thì đành chịu thế. Muốn biết đó là bệnh gì cũng không biết, mà các sơ cũng chưa từng gặp ba mẹ của bé, vì đến toàn vào giờ họ đi làm rẫy. Sơ nói, nếu mà biết bệnh gì, chỗ nào chữa, thì nhà thờ giúp đưa bé đến nơi. Nhìn mắt bé thấy buồn quá.

Nhà thứ ba là một gia đình dân tộc Gia Rai, không quá khó khăn. Cụ ông và cụ bà đẹp lão lắm. Cụ bà cao chỉ khoảng 1m4 nhưng có tận 11 người con. Cụ có vẻ đỏm dáng lắm, khi được quay phim chụp hình thì cũng …điệu đà, ngúng nguẩy đáng yêu lắm. 

Sau khi phát quà xong, khoảng gần 12h trưa. Từ đây tới chiều là thời gian thưởng ngoạn. Theo dự tính là thẳng lên Trà Kê, điểm cao nhất chỗ gần đây. Mình nghe nói thì tưởng tượng ra khung cảnh núi non hùng vĩ, bên rừng bên thác. Tới Trà Kê mình không thấy gì đặc sắc, có tí thất vọng.

Nhưng khi mua xong đồ ăn và mang vào nhà thờ, lên nhà sàn ngồi ăn, gió mát lồng lộng, chuông gió tre thỉnh thoảng lốc cốc nghe thật vui tai. Đối diện nhà sàn là nhà thờ. Nghe đâu cha cố một mình, trong vòng 7 năm mà làm nên được cơ ngơi như vậy!

Mình ngồi ở nhà sàn ăn uống no say, gió mát, cảnh đẹp thích quá, nên mọi người rủ vào trong nhà thờ, rằng bên trong toàn gỗ hoành tráng lắm, mình lười không vào. Khung cảnh này, sao gợi lên một cái gì đó quen thuộc mình từng trải qua, kiểu như “ déjà vu”, mà mình không giải thích được.

Cha Triều, cha cố nơi đây còn trẻ, khoảng 40, sởi lởi, vui tính. Cứ trách sao không báo trước để cha làm cơm đãi, mà lại mua đồ ăn ngoài chợ. Xem chừng là lần sau lên vùng này, sẽ có thêm một địa điểm tiếp đón rồi đây.


Rời Trà Kê, chúng tôi đến thăm và cho quà vài gia đình nữa. Có một nhà, bà mẹ 86 tuổi, bị con trai đuổi ra khỏi nhà ngày khi tang chồng bà xong. Bà mẹ không biết đi đâu, bèn cất ngay cái chòi bên cạnh ngôi nhà để ở. Khi đến nơi, nhà anh con trai đóng im ỉm, còn bà mẹ thì chảy nước mắt khóc. Mình thì không hiểu luật pháp ở đâu, miệng đời ở đâu. Không có câu giải đáp!

Xong việc, chúng tôi đến thăm hồ Xuân Hương và nhà thờ sông Hinh. Trên đường, thấy sơ đeo một cái nhẫn bạc, tôi mới hỏi lai lịch. Thì ra đây là chiếc nhẫn ghi dấu lời khấn của một người tu sĩ. Có ba lời khấn : lời khấn khó nghèo (nguyện không có tài sản tiền bạc cho riêng bản thân), lời khấn khiết tịnh (nguyện sống độc thân suốt đời) và lời khấn vâng phục (nguyện vâng phục bề trên hợp pháp trong đức tin).

Lúc này đã thân hơn, tôi mới hỏi sinh hoạt của các sơ thì lấy ở đâu ra. Sơ mới giải thích là có một cộng đoàn nhánh tu. Tiền các nơi nhận được gom về một chỗ rồi phân chia ra các nơi theo như cầu. Như ở Tịnh Sơn thì không có làm gì ra tiền, thì chỉ xin tiền về sử dụng thôi. Sinh hoạt của các sơ cũng đơn giản và tiết kiệm. Từ đầu dịch đến giờ chắc cũng khó khăn nên việc phân bổ ngân sách của cộng đoàn có ít hơn.

Hỏi xong về 3 lời khấn nguyện thì cũng đến Hồ Xuân Hương. Hồ đơn sơ, mát mẻ chứ không có gì đặc sắc. Từ hồ qua nhà thờ sông Hinh cũng tiện đường, không xa mấy. Nhà thờ thiết kế hình tam giác, bằng đá tìm được ở ngay tại suối ở địa phương. Các phần bằng gỗ thì gỗ cũng rất hoành tráng ở địa phương. 

Các thanh tròn là đá lấy lên khi khoan giếng

Nhà thờ xây trên một phiến đá hẳn là to dày lắm, vì khi đào giếng, khoan sâu xuyên qua tảng đâ cả 150m hơn mới đến nước. Trục tròn đá khoan giếng cũng được dùng để trang trí. Mình có cầm trong tay một mảnh, đường kianh hơn 10cm, cao hơn 10cm, thấy cũng nhẹ, nhưng mình không lấy về.

Mình có nói với cha là mình phê bình cha, vì dùng gỗ thế này thì hại biết bao rừng, ka ka. Cha mở nhạc ngọt ngào tình cảm lắm nghen, mời uống trà Thái Nguyên, còn mình thì lo săm soi gỗ đá, ka ka.

Rời nhà thờ, chúng tôi đi thăm đập thủy điện sông Ba Hạ. Chỗ này là hồ thủy điện, phía xa là núi, mặt trời đang lặn xuống. Khi mặt trời khuất hẳn thì một tia sáng xanh lam rọi lên nền trời. Mặt trăng ngày đầu tháng từ từ hiện lên. 

Chà, đón hoàng hôn nơi đây thật tuyệt vời. Vì muốn quay cảnh hoàng hôn đến tận cùng nên mọi người phải chờ mình khá lâu. Mọi người ở đây bảo rằng cũng hiếm khi bỏ thời gian ngắm hoàng hôn như vậy, và cũng khá ngạc nhiên vì thái độ sung sướng hạnh phúc ngắm nhìn buổi chiều tà của mình.

Hoàng hôn xuống cũng đánh dấu một ngày làm việc đã xong. Mọi chuyện tốt đẹp, ai cũng thấy hài lòng. Riêng mình thì đặc biệt hài lòng, dù thấy có chút vô dụng vì không giúp được gì nhiều, xe cũng không lái tí nào, vì sư cô lái lụa là quá, nên mình ngồi im cho xong, hihi…

Nếu các bạn có thời gian rảnh rỗi, hãy thử về đây một chuyến, thăm người dân, hiểu thêm những mảnh đời khác. Phong cảnh không hoành tráng như Tây Bắc nhưng dòng kênh Bắc rất êm đềm, hoàng hôn ở thủy điện sông Ba Hạ thì rất tuyệt vời. Và bình minh thì rất tinh khôi nhé. Nếu ở tại chỗ, bạn sẽ nghe thấy cả tiếng chim kêu, chó sủa. Một không gian có vẻ hoang sơ nhưng lại rất ấm cúng.



Nhím tiểu thư

(1) : An lạc quán : 11 Phan Bội Châu, Thành Phố Tuy HòaPhú Yên.

(2) : Các bạn nếu muốn đến nhà thờ Tịnh Sơn thì hãy để lại lời nhắn nhé.

 

10 thg 2, 2021

Có một ngày 8 tháng 3 như thế

Có một ngày 8 tháng 3 như thế

Montreal, 2004.



8/3 năm nay đặc biệt lắm, vì là 8/3 sau 12 năm gì đó, chẳng có một cành hoa nào, hihi…Tui ở lab đến 5PM, suy nghĩ xem nên về nhà hay nên ở lại tiếp. Cuối cùng tui quyết định ở lại, vì chẳng hiểu mình sẽ làm gì ở nhà. 

9PM rời lab, 10PM về đến nhà. Không thấy ai. Phòng ngủ ông bà chủ nhà đóng kín, chắc ông bà ấy đi ngủ. Kể ra sớm, nhưng biết làm sao.

Tui đành bấm bụng uống một cốc sữa cho khỏi đói, tự hứa lần sau sẽ không đày đọa thân mình ở lab muộn đến thế làm gì. (Bếp và phòng ăn ngay bên ngoài phòng của ông bà chủ nhà, hâm đồ sẽ ồn vào bên trong, mà ăn đồ trong tủ lạnh không hâm nóng thì ...thà nhịn luôn).

Nhìn trên bàn thì thấy mảnh giấy bà chủ nhà nhắn: “Chi, mày làm ơn đừng bật TV nhé, vì đang cài đặt…”. Tui thì cũng hiếm khi bật TV, nhất là lại muộn như thế này thì chưa bao giờ bật. Nhưng đọc thấy cái mẩu tin thêm tủi thân. Đã phải nhịn đói lại còn bị cấm cản!

Ngang qua phòng của bà chủ nhà, tui cũng không vào dùng máy tính vì lạnh và khói thuốc.

Về phòng, tui ngồi dưới nền nhà, gọi điện thoại cho đứa bạn. Điện thoại reng 2 tiếng không ai nhấc máy, tui chợt nhớ ra hôm nay nó đi làm 11PM mới về. Thế là gác máy.

Tui nhìn khắp phòng xem mình có thể làm gì. Sách chuyên môn thì không lòng dạ nào để đọc. Thơ, truyện, sách khuyên bảo cũng không buồn dở ra. Mà sao phòng tui không có gì đẹp đẽ cả. 

Chỉ 5ph sau khi về phòng, tự nhiên thấy mình cô đơn khủng khiếp. Cả cái thành phố này không có ai để mình có thể gọi điện thoại được. Tui lại tự cười một cái 8/3 vớ vẩn.

Nhìn đến cái giường, tui nghĩ hay là mình đi ngủ. Nhưng mới 10.15PM, còn quá sớm. Cuối cùng, tui quyết định không nên ru rú trong phòng, thôi thì lên online cũng được. Bạn bè lúc nào mà chẳng có.

Vừa lên đến nơi, vào Y!M xong thì ông bà chủ nhà về! Tui kể tưởng ổng bả ngủ nên không dám ăn, sợ ồn. Hummm, bà chủ nhà thấy tui tội nghiệp quá, bèn đưa đồ ăn thừa của bà ấy ở nhà hàng, hỏi tui có ăn không. Tui cũng không có tị hiềm gì chuyện ăn thừa, bà ấy xin ăn thừa của tui mãi đấy thôi. Nhưng biết là bà ấy giữ mấy thứ đồ đó để ăn khi đi làm trưa mai, nên trả lời không, rồi chạy xuống bếp lấy đồ của mình ra hâm ăn xì xụp.

11PM ăn xong tui lại quay trở về phòng. Nhìn lại phòng mình tui thấy cũng đẹp chán. Nhìn đến đống sách tiếng Anh và Pháp mang theo, thấy hối lỗi kinh khủng. Bao nhiêu quyết tâm lúc ở nhà thế mà từ lúc sang đến nơi chưa một lần dở chúng ra.

15ph sau, tui quyết định đi ngủ, và tự hứa từ mai sẽ học hành nghiêm chỉnh, không ham chơi nữa. Hi hi, ngày mai…Ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay…

Nhím tiểu thư

30 thg 12, 2020

Audio - Bên bờ tử - Một câu chuyện thật về sự chiến đấu với bệnh tật

Audio - Bên bờ tử - Một câu chuyện thật về sự chiến đấu với bệnh tật

 


Buổi sáng thứ bảy, mùa hè, bầu trời xanh trong không một gợn mây, màu nắng vàng chanh, gió nhè nhẹ mơn man làn da, mùi thơm của cỏ cây, hoa lá… vương vương, thoang thoảng. Con đường nhỏ uốn lượn nhẹ nhàng, hai hàng cây xanh bên đường đều tăm tắp, một bên hè trống tiếp ráp với những ngọn đồi nhấp nhô nối nhau trải dài, in lên nền trời, bên kia là dãy nhà nằm ngoan ngoãn sau những mảnh vườn được trồng tỉa vén khéo. Hai vợ chồng tôi lững thững đi trong cảnh trí êm lặng, an bình của thành phố nhỏ như còn đang say ngủ. Tôi mới mổ “cataract” mắt bên phải. Mọi việc suông sẻ nên cảm thấy rất yêu đời, tôi tinh nghịch nhắm bên mắt trái, cảnh vật như sáng hẳn ra, những chiếc lá thật rõ nét, óng ánh, rung rinh dưới nắng, những bông hoa tươi lên reo vui, cảnh vật trong trẻo như được nhìn qua khung cửa kính mới được lau chùi kỹ lưỡng bằng Windex. Nhớ lại ngày mổ mắt, khi nằm trên bàn mổ ở nhà thương của trường Đại học Stanford, vẫn căn phòng sáng trắng, vẫn các thủ tục thông thường như những lần phải thử nghiệm hay mổ xẻ trước đây, nhưng lòng tôi thanh thản không một chút âu lo. Từng giọt thuốc an thần từ túi treo trên cao nhỏ vào mạch máu làm tôi chơi vơi, bềnh bồng.


– Bà Nguyễn, bắt đầu nhé!


Tiếng bà bác sĩ nhẹ nhàng thoảng bên tai, mắt tôi tê đi, không cảm giác. Chợt hai đốm đen hình vuông hiện ra rồi từ từ một vầng mây màu hồng đỏ, màu đỏ tuyệt vời, bay bay. Một mảng xanh “turquoi” lượn lờ trên nền trời xanh trong. Cứ thế, những quầng mây màu sắc đẹp chưa bao giờ tôi nhìn thấy nhẹ nhàng bay bay, chơi vơi, chơi vơi…đưa tôi đi vào một vùng an lạc mênh mông như có tiếng gió nhẹ nhẹ, như có tiếng thầm thì và tôi thiếp đi trong cảm giác thật êm ái lạ lùng.


– Xong rồi, bà Nguyễn! Bà nghỉ ngơi một chút rồi về nhé.. Sáng mai trở lại gặp tôi.

Tôi bừng tỉnh khi bà bác sĩ dịu dàng vỗ nhẹ cánh tay tôi, chiếc giường lại được đẩy về phòng đợi khi sáng.





Trong đời, hai lần tôi có niềm sung sướng ấy. Niềm hạnh phúc mênh mông trong tuyệt vời cảm giác, như mê thiếp trong hoan lạc dị thường… Lần đầu tiên là sau một buổi tọa thiền, đặt lưng xuống giường, tôi mê đắm trong cảm giác nhẹ nhàng, lâng lâng ấy. Miên man trong suy nghĩ, tôi cùng ông xã đã về đến nhà con gái. Tuần này chúng tôi đến ở chơi nhà con như một kỳ nghỉ hè. 


– Bố mẹ dậy sớm thế, đi những đâu rồi? Bố mẹ có lên những con đường đi bộ trên núi chưa? Cô con gái đang tỉa mấy cây hồng trong khu vườn trước cửa ngước lên hỏi khi thấy chúng tôi về.


– Chưa, bố mẹ mới đi quanh đây thôi. Nhà cửa đẹp, không khí thật êm ả, thanh bình. Mai các cháu có đi leo núi, có đi “hiking” nhớ rủ ông bà đi cùng nhá!


– Mời ông bà vào uống cà phê, ăn tạm một miếng bánh “croissant” rồi chúng con đưa ông bà qua San Francisco chơi. Tiếng cậu con rể từ trong nhà vọng ra, cùng mùi cà phê tỏa ra thơm ngát. Đã lâu không ghé thành phố biển Cựu Kim Sơn, khung cảnh vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Bầu trời hôm nay màu xám, nhiều mây và hơi lành lạnh, nên dù đang mùa hè vẫn phải mặc áo ấm. Vẫn những chiếc xe điện kêu leng keng, chở du khách thăm thành phố. Con đường Lombart vẫn ngoằn ngoèo và những con dốc dựng đứng làm chùn bước những người lái xe còn yếu. Khu quanh biển vẫn tấp nập khách nhàn du. Sau khi lái xe một vòng quanh phố, chúng tôi ghé lại công viên cho các cháu chạy nhảy, chơi đùa. Khi tụi nhỏ đã mệt rồi, cả nhà kéo vào phố Tàu ăn mì trong một tiệm khá ngon. Về tới nhà còn sớm nên các cháu rủ xuống hồ bơi.


– Mẹ mới “surgery,” xuống hồ bơi mẹ cẩn thận nghe. Cô con gái luôn miệng nhắc vì cháu nghe kể có người sau khi mổ “cataract” không giữ gìn kỹ nên bị thông manh, nhìn mọi vật không rõ nữa. Mang cặp kính đen to bản của nhà thương cho, tôi nằm trên chiếc phao nổi trong một góc khuất của hồ bơi mặc cho mấy ông cháu chơi đùa. Hai vợ chồng cô con gái lúi húi sửa soạn cho bữa ăn tối ngoài vườn. Buổi sáng trời không mây, bây giờ vài cụm mây trắng từ đâu tới, lang thang trên bầu trời xanh trong đưa tôi về thời gian cách đây mười mấy năm mà tưởng chừng như mới hôm qua…***Đó là khi tôi còn đi làm. Một buổi chiều đang ở sở tôi bổng lên cơn ho sặc sụa, ho như xé ruột gan, nước mắt chảy ràn rụa, tôi phải xin phép về sớm. Tôi rất ghét đi bác sĩ vì không thích cảnh ngồi dài người chờ đợi nên thường khi bị ho như thế tôi chỉ uống thuốc ho, nhờ nhà tôi xoa dầu nóng khắp châu thân rồi nằm nghỉ. Sau một giấc ngủ dài là khỏe lại ngay. Lần ấy nhà tôi nhất định đưa tôi đi bác sĩ. Sau những khám nghiệm thông thường, bà bác sĩ lấy một dụng cụ nhỏ kẹp vào ngón tay tôi. Đọc kết quả bà thốt lên:


– Bà Nguyễn, bà phải nhập viện ngay. Độ oxygen trong máu bà thấp quá, chưa đến tám mươi phần trăm! Bà nói nhân viên gọi ngay xe cứu thương. Hai vợ chồng nhìn nhau tê điếng. Trầm trọng vậy sao! Xe cứu thương đến, mọi vật như lao xao và tôi như người mộng du, nằm trên chiếc băng ca, chui vào lòng chiếc xe hụ còi chạy nhanh. Trong phòng cấp cứu tôi vẫn thảng thốt, mới tuần trước đi Houston ăn Tết với gia đình cô em gái, khỏe mạnh không một triệu chứng nào, bây giờ nằm đây những dây cùng nhợ. Vô thường đến vậy sao! Mỗi ngày y tá đến lấy máu, cứ vài tiếng lại đo nhịp tim, đo huyết áp, đưa tôi chui vào hết máy nọ, máy kia để tìm bịnh. Mấy hôm đó trời chuyển mưa, gần như ngày nào cũng có mưa, có ngày mưa nhẹ, có ngày mưa như vũ bão, gió rít từng cơn. Buổi chiều sau khi tan sở là nhà tôi và cháu út lại đến thăm, ngồi bên giường đến tối mịt mới về. Ban đêm còn lại một mình tôi không tài nào ngủ được, lòng ngổn ngang trăm mối, mệt mỏi thiếp đi thì y tá lại vào để đo nhiệt độ, đo tim, đo máu, lấy máu để thử nghiệm. Tôi còn nhớ như in buổi tối sau khi làm “Angiogram” nhà tôi và cháu út đang ngồi cạnh giường. Viên bác sĩ đến đã thản nhiên nói:


– Tôi rất buồn, bà Nguyễn, bà vướng phải một căn bệnh hiếm, “Pulmonary Hypertension,” bịnh không chữa được, chỉ đợi thay phổi, thay tim. Bà còn sống khoảng chừng hai năm, hãy thu xếp và hãy vui những ngày còn lại.


Mặt nhà tôi trắng bệch ra và thằng con cắn môi, dụi mắt để ngăn tiếng nấc. Tôi điếng người nhận bản án tử hình! Tôi có cảm giác mặt tôi như đanh lại và người như tê đi.


Buổi sáng hôm sau, ngồi trên chiếc xe lăn rời khỏi bệnh viện, trong lòng tôi đau đớn vô ngần. Từ nay tôi là kẻ tàn phế. Mũi lúc nào cũng phải có ống thở oxygen. Tôi thật sự thành người tàn phế!


Sau một tuần mưa gió, hôm ấy trời nắng ấm, tôi nhớ căn nhà nhỏ của tôi, xa có hơn mười ngày mà tưởng chừng như lâu lắm. Trước nhà, cả dãy Hồng dọc lối đi đầy hoa. Vào nhà, tôi ra sân sau thăm khu vườn nhỏ, vạn vật như tươi cười trong nắng. Cây Apricot hoa chi chít từ gốc đến ngọn, màu hồng dịu dàng như màu hoa Anh Đào của Nhật. Cây Mận đầy hoa trắng xóa trên cành. Cây Đào ăn trái hoa thưa hơn, màu hồng đậm hơn, duyên dáng ở một góc vườn. Bên hông nhà một giàn Nho vòm tròn hình vòng cung, lá non xanh và những chùm nho xinh xinh đã tượng hình. Bao phủ mặt đất từng khoảng cúc tím, cúc vàng nở rộ, những bông “Lily of the Nile” cũng như cố vươn lên mỉm cười với tôi. Thoang thoảng hương thơm của bụi hoa Nhài trộn lẫn hương hoa Hồng, dàn hoa Hồng với những bông hoa nhỏ xíu bằng đồng hai mươi lăm xu, màu hồng phấn, thơm nhè nhẹ. Hai cây Bông Giấy đỏ thắm quấn quýt hai bên cột “patio.” Nhìn phong cảnh của khu vườn mà lòng tôi nghẹn lại.


Bấy giờ là mùa xuân, chim non ríu rít truyền cành. Cảnh đẹp quá, thiên nhiên đẹp quá. Tôi như say với nắng, màu nắng thật ngọt ngào. Tôi như say với gió, làn gió thật thơm tho. Từng phiến lá rung rinh, từng cánh hoa khoe sắc… Trời ơi… cảnh tươi đẹp thế kia, tôi yêu quá… thế mà chỉ hai năm, hai năm là hai mươi tư tháng, là bảy trăm ba mươi ngày tôi phải vĩnh viễn rời xa. Tôi chỉ còn thời gian ngắn ngủi như thế trên cõi đời này sao… và tôi đã bật khóc.


Những chuỗi ngày tiếp theo ủ ê, buồn nản. Ban ngày chỉ còn mình tôi trong căn nhà vắng, đi vào, đi ra… dù sao tôi cũng phải sửa soạn, sửa soạn cho một chuyến đi thật xa, về miền miên viễn. Đầu óc mông lung, nghĩ quẩn nghĩ quanh rồi lại vùi đầu vào gối mà khóc, khóc cho vơi, khóc cho thỏa.


Ban đêm giấc ngủ chập chờn với những cơn ác mộng, tỉnh dậy mệt nhoài, trăn trở.Tôi thấy mình như đang đi trên một cánh đồng vắng lặng, hoang vu. Trời xám và hình như lất phất mấy giọt mưa. Đồi núi mênh mông, cỏ mênh mông, những bông cỏ may như bám vào mặt, những ngọn cỏ dại như vướng vào chân. Cảm giác bơ vơ đến tột cùng. Bỗng một đám người từ đâu ùa tới đuổi dồn tôi vào một ngõ sâu hun hút, như một con đường hầm tối đen. Tôi cắm đầu chạy và như hẫng chân, bừng tỉnh, tim đập mạnh, mệt nhoài. 


Từ ngày ở nhà thương về tôi hay có những cơn ác mộng như thế. Trong cơn mơ tôi thường gặp những đám người đen đúa, bẩn thỉu, không ra mặt người, không ra mặt quỷ chạy đuổi tôi và tôi chạy trối chết cho đến khi hoặc như vấp phải vật gì hoặc vì quá nhược sức tôi ú ớ vùng tỉnh dậy. Tôi nghe nói khi con người ở bên bờ tử sinh hay nhập nhòa, chập choạng nhìn được cõi bên kia, một thế giới vô hình mà khi mạnh khỏe, dưới ánh mặt trời ta không nhìn thấy.


Tôi nhớ hồi mẹ chồng tôi bịnh, đến gần ngày cụ mất cụ hay mê sảng: “Sao ở đâu ra mà lắm người vào nhà mình thế này. Đuổi đi, đuổi chúng nó đi”. Tôi buốt ruột khi nghĩ đến cha mẹ tôi, hai thân già còm cõi sẽ phản ứng ra sao nếu tôi bất hiếu đi trước, để cho “lá úa phải khóc lá xanh,” bầy chị em mỗi năm vẫn ríu rít gặp nhau và con, cháu tôi… Tôi sắp phải rời xa tất cả.


Có đêm tôi mơ tôi mặc chiếc áo dài nhung đỏ nằm bình an trong chiếc quan tài, đèn nến lung linh và tôi bay như chim trong bầu trời bát ngát, thoải mái, nhẹ nhàng. Tôi yếu và hốc hác hẳn vì lo buồn, vì khó ngủ, vì nghĩ ngợi lung tung. Ngày nghỉ nhà tôi đưa đi bộ quanh khu nhà ở hoặc ra khu công viên có cỏ hoa tươi tốt cho tinh thần sảng khoái nhưng cứ đi được một quãng ngắn là tôi phải dừng lại thở dốc, lên ba bốn bậc cầu thang tim đã đập thình thịch phải ngừng! Cho đến một đêm lũ người đó lại đuổi theo tôi, tôi lấy hết sức bình sinh cắm đầu chạy. Những bước chân chạy theo đằng sau dồn dập, như gần, thật gần. Rồi không hiểu sao trong cơn sợ hãi ấy bản năng của tôi bỗng trổi dậy với một ý chí quật cường. Tôi quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào đám người đen đúa, bẩn thỉu đó và quát vào chúng:

– Sao tụi bay theo tao hoài vậy, có đi đi không? Rồi tôi lao thẳng tới đuổi họ. Họ quay người chạy đi và biến mất. Kể từ lần ấy tôi không còn nằm mơ thấy mình bị rượt đuổi nữa. Thì ra “ma trong mơ” cũng biết sợ kẻ mạnh và ăn hiếp kẻ yếu đó chứ! 


Các bạn trong sở chia nhau đến phụ nấu cơm nước và chuyện trò làm tôi vui. Các bạn ở xa biết tin cũng điện thoại hỏi thăm, gửi tặng kinh sách và băng giảng của các Thày. Những sự ủng hộ tinh thần này, cộng với sự lo lắng, chăm sóc, và thương yêu của gia đình đã giúp tôi mạnh mẽ hơn lên. Và tôi quyết chí phải chống lại chứng bệnh ngặt.


Tôi bắt đầu tập thiền. Cậu em rể đem bài chỉ dẫn cách tập Dịch Cân Kinh bảo tôi cố tập. Hàng tuần tôi phải đi ba bác sĩ, một chuyên về tim, một chuyên về phổi, và vẫn phải trở lại bà bác sĩ gia đình. Mỗi tháng phải đến phòng khám bệnh của trường Đại Học UCLA để bác sĩ chuyên môn về bịnh Pulmonary Hypertension điều trị. Tiểu Linh, bạn của cô em tôi, PhD về Đông y, sau khi bắt mạch, khám bịnh có cho một toa thuốc tăng cường thể lực, cân bằng khí huyết và nhìn sắc diện tôi cô nói: “Chị còn vượng lắm, cần nhất là giữ tâm thanh thản và tinh thần vững vàng thì chị sẽ vượt qua. ”Mỗi tối tôi ngồi khoanh chân tập thở.


Lúc đầu, tôi chưa thể xua đi những tạp niệm, chưa thể lắng tâm tư mình như lắng gạn bình nước táo. Tôi ôn lại cuộc đời tôi từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, những vất vả gian nan sau năm 1975 khi chồng phải đi cải tạo, những vinh nhục khi lên voi lúc xuống chó, những ngày lênh đênh trên chiếc thuyền con ra khơi vượt biển, những khó khăn khi một nách hai đứa con thơ phải làm lại từ đầu với hai bàn tay trắng, phất lên rồi thất bại và bây giờ lại mắc căn bịnh hiểm nghèo. Tại sao? Tại sao?? Những câu hỏi cứ dằn vặt trong đầu óc. Có những lúc tôi như ngộp thở rồi lại dằn lòng xuống, tập trung để cố gắng hít vào thật sâu và thở ra thật từ từ. Nhà tôi là người ít nói, sự lo âu làm cho anh lại càng ít nói hơn. Muốn an ủi vợ mà chẳng biết nói sao, chỉ nhắc nhở uống thuốc, chịu khó đưa đi bác sĩ và ái ngại khi thấy tôi ủ dột, buồn phiền. Thằng cháu út ra vào im lìm, không dám làm gì gây tiếng động mạnh, len lén nhìn mẹ xót thương. Thỉnh thoảng tôi nhói lòng khi bắt gặp nhà tôi ngồi trong xó tối khóc lặng lẽ. Không khí trong nhà thật ảm đạm, thê lương. Nghĩ đến lời nói của ông bác sĩ và khuôn mặt vô cảm của ông ta ngày trước, tôi thật giận và trong một lần đến phòng mạch của ông tôi đã hỏi thẳng:


– Thưa bác sĩ, ông có phải là Thượng Đế không mà ông biết rõ ngày giờ tôi chết? Sao ông có thể nói như vậy với bệnh nhân? Nếu tinh thần người bịnh không vững thì tôi nghĩ họ có thể chết vì lời nói của ông chứ không phải vì căn bịnh.


Ông bác sĩ có vẻ không phật lòng chút nào, chắc vì đã quá quen với những trường hợp như thế, nên ông đem một quả tim bằng plastic ra để giảng giải. Ông đưa những tài liệu về căn bệnh này và chịu khó ngồi trả lời những câu hỏi vặn vẹo của tôi. Tóm lại bịnh chưa có thuốc chữa, con người sống nhờ máu đưa oxygen đi nuôi cơ thể, áp suất trong phổi cao nên phổi khó hấp thụ Oxygen, phổi không làm việc tốt thì tim phải làm việc nhiều, phải bơm máu nhiều lần hơn cho đủ lượng oxygen cần thiết và như thế thành của quả tim sẽ dầy ra, to ra, đến một ngày tim sẽ chai cứng, sẽ đình công không làm việc nữa…và ông khuyên tôi phải cắm ống thở vào mũi cả ngày lẫn đêm để tăng cường nồng độ oxygen trong máu cho tim bớt khổ, đợi đến ngày gặp cơ hội có tim phổi sẵn sàng để thay.


Bệnh viện ở UCLA đã ghi tôi vào danh sách chờ người cho tim phổi. Khi trời chớm vào Thu, gió nhè nhẹ, nắng hanh hanh. Rặng phong hai bên đường bắt đầu đổi màu. Sau mấy tháng đã quen, ống thở không làm tôi vướng víu. Hàng ngày, giọng nói hiền từ, dịu dàng như người cha già của thầy Thích Thanh Từ qua các băng giảng đã cho tôi hiểu về lẽ vô thường, về lý nhân duyên, về luật nhân quả và nhất là về nghiệp lực của con người qua đời đời kiếp kiếp.


Thời kỳ xuống tinh thần đã qua, tôi lấy lại tự tin cho cuộc sống. Buổi sáng tôi ra sân sau tập thể thao, ngắm trời đất, cỏ cây, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi. Tôi yêu đời nhưng tôi không còn sợ chết. Tôi đã hiểu ra, ai rồi cũng phải chết, đâu có ai sống hoài. Tôi thấy tôi thật hạnh phúc là đã được báo trước chuỗi ngày còn lại, để có thì giờ ngẫm nghĩ về cuộc đời, về thân phận con người. Tôi không còn dằn vặt mình, không còn than trời trách đất. Tôi hết so sánh với các em, các bạn để buồn tủi về định mệnh nghiệt ngã của mình.


Sống một ngày vui một ngày, tôi tự nhủ và tôi sẵn sàng đứng dậy như bao lần trong cuộc đời tôi đã từng gục ngã rồi lại cắn răng đứng dậy để vươn lên. Nếu có vướng nghiệp từ muôn kiếp trước thì tôi vui lòng trả cho hết nghiệp trong kiếp sống này và tôi sửa soạn sẵn sàng để ra đi. Tự tin như thế, yêu đời như thế, tôi chấp nhận số phận, và nghĩ mình phải làm một cái gì đó trước khi ra đi, chứ không thể ngồi mà...đợi chết!


Phải nói là tôi rất cám ơn nước Mỹ, cám ơn cộng đồng của cái đất nước tự do tuyệt vời này, đã cung cấp thật nhiều cơ hội mở mang kiến thức cho những ai thích học hỏi, để cho tôi được hưởng ké theo ngày ấy. Tôi vào “Recreation Center” của thành phố tìm lớp học. Tôi học vẽ, học làm đồ gốm, và học trang trí nhà cửa. Ở đây tôi có thêm nhiều bạn mới, những người già đã về hưu, những người nội trợ sau khi đưa con đi học thì vào trường. Ngồi trong lớp tôi chăm chú nặn những bình hoa, sáng tạo những vật dụng trong nhà. Tôi khắc những con búp bê Nhật Bản thật là xinh. Rồi những ngày đẹp trời tôi đem giá vẽ ra vườn để đắm mình vào thế giới của màu sắc..


Tôi bắt đầu viết văn. Những bận rộn và sự đam mê nghệ thuật đã giúp tôi quên đi bệnh tật. Nhiều lúc tôi lẩn thẩn nghĩ, nếu không bịnh tôi có được về hưu sớm và sống thoải mái như thế này không! Biết tôi bị bệnh, bạn bè quen biết xúm nhau kẻ khuyên ăn món này người cho món khác. Một chị bạn gửi cho hột cải thuốc của Nhật, lá cải tựa như lá rau cải làn bảo gieo hột trồng cây lấy lá ăn tốt lắm. Tôi rắc luôn cả gói, chỉ mấy tháng đã có cải non ăn. Có người bạn khác gửi cho đĩa tập Suối Nguồn Tươi Trẻ.


Thế là cứ buổi sáng thì Dịch Cân Kinh và buổi tối thì SNTT. Khi ngồi thiền tôi đã bớt nghĩ ngợi lung tung, hít vào thật sâu và khi thở ra tôi thấy rõ luồng hơi ấm chuyển trong người. Bên cạnh thuốc tây tôi đã uống mấy trăm thang thuốc bắc. Uống thuốc tây nhiều khi chữa được phổi lại hỏng gan. Thuốc bắc gia tăng hệ thống miễn nhiễm và giúp điều hòa khí huyết. Thời gian từ từ trôi, tôi tìm đến nhiều bạn thân, đến nơi hội họp. Tôi nhờ ông xã chở đi tham gia các buổi văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, tham gia các câu lạc bộ thơ văn, vui với các hội nhóm phụ nữ.


Ở nhà tôi viết văn, vẽ, và tập viết thư pháp. Tôi hết mặc cảm với ống tube oxygen, còn đùa giỡn là mình có “món nữ trang đặc biệt,” trêu chọc ông chồng già của tôi để “cheer him up. ”Khi hết thời gian hai năm theo phỏng đoán của ông bác sĩ, tôi thấy người khỏe khoắn hơn rất nhiều.


Khi gặp lại ngài bác sĩ đã phán sau hai năm tôi phải chết, thì ông ta cười:


– Bà Nguyễn, bà là bệnh nhân tuyệt vời. Bà là bệnh nhân đầu tiên mắc bệnh hiếm này mà không bị tồi tệ hơn. Bà ráng cầm cự thêm vài năm, họ đang nghiên cứu nhiều, hy vọng sẽ tìm ra thuốc tốt để chữa căn bịnh này. Mười bẩy năm đã trôi qua từ ngày ấy. Bây giờ tôi vẫn còn đây! Sự nghiên cứu của các khoa học gia vẫn giậm chân tại chỗ đối với “căn bịnh hiếm” này chứ chưa tìm ra giải pháp nào khá hơn. Nhưng chính tôi, một người từng đứng giữa đôi bờ sinh tử, đã tìm thấy những kinh nghiệm vô cùng tuyệt vời có thể giúp những bịnh nhân như tôi tồn tại. Xin tóm tắt chia sẻ với bạn đọc: Sống tự tin, hòa nhập với gia đình, bạn bè, cộng đồng, học, và tham gia nghệ thuật. Đặc biệt nhất, là môn thiền định. Tôi đã áp dụng triệt để môn ngồi thiền để buông xả hết lo âu sầu muộn và giữ được lòng thanh thản an nhiên.. Có thể nói, thời gian ấy, tôi yêu đời còn hơn bất cứ ai…

 

Tác giả: Đỗ Dung

Tên thật: Nguyễn Đỗ Dzung, sinh năm 1947, cựu nữ sinh Trưng Vương, tốt nghiệp Đại Học Dược Khoa Sài Gòn năm 1972, Thuyền Nhân, đến Mỹ năm 1980, hiện tại về hưu, vui thú điền viên, cư ngụ tại miền Bắc, California.